Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra - Phần 1

Thứ năm - 15/08/2013 23:16
Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra - Phần 1
Vấn đề lý luận pháp luật liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được Bộ luật Dân sự 2005 qui định tại Điều 623 và hướng dẫn cụ thể tại phần III, Nghị quyết 03/NQ-HĐTP ngày 8 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao (sau đây gọi chung là Nghị quyết 03 năm 2006).
Thực tế cho thấy, mục đích của nhà làm luật tách riêng các qui định về Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thành một điều luật là nhằm khẳng định và ràng buộc nghĩa vụ, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ trong quan hệ xã hội thường ngày.
Về cơ bản, trong thời gian qua những qui định cụ thể của Bộ luật Dân sự, các Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao về chế định bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đã đáp ứng được tình hình chung của công tác áp dụng pháp luật, đảm bảo cho các cơ quan tiến hành tố tụng nhận định hướng giải quyết rõ ràng, đúng pháp luật, tạo cách giải quyết đồng bộ, thống nhất cao.
 Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng hiện nay, với tình hình tai nạn giao thông ngày một tăng, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhiều, khi tiến hành tố tụng, một số vấn đề vướng mắc đã nảy sinh như: Thế nào là chủ sở hữu cũng phải bồi thường khi không có lỗi? Thế nào là giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm đúng pháp luật? Mức độ bồi thường khi không có lỗi là bao nhiêu? Những vấn đề trên khiến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nhiều khi không được đảm bảo, điều đáng nói hơn là sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, cụ thể là Toà án nhân dân các cấp, đã khiến tính nghiêm minh của pháp luật không được đảm bảo, việc sửa án, huỷ án của Toà án cấp trên với Toà án cấp dưới chưa có căn cứ giải thích rõ ràng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin mạnh dạng bàn về một số vấn đề vướng mắc khi áp dụng qui định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra” trong thực tiễn tiến hành tố tụng.
I. Một số vụ án đã qua xét xử có quan điểm khác nhau về đường lối xử lý.
1. Vụ án thứ nhất: Nguyễn Tấn Đạt dùng xe môtô của mình biển số 61F4-2362 chở Hoàng Thanh Bình đi bán nắp chai bia. Khi đạt vào quán bán nắp chai thì Bình ngồi trên xe, do Đạt không rút chìa khoá nên khi Đạt quay trở ra thì Bình nói là để Bình đèo đạt về. Trên đường về Bình gây tai nạn chết một người.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 318/HSST của TAND tỉnh B. về phần dân sự đã xử buộc Bình và Đạt liên đới bồi thường cho bị hại 30.000.000đồng. Bình và Đạt kháng cáo. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 647/HSPT của TAND Tối cao tại thành phố Đ đã giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại quyết định giám đốc thẩm số 10/2007/HS-GĐT của Chánh án TAND Tối cao đã xử huỷ toàn bộ hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm nêu trên về phần trách nhiệm dân sự với lý do cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc Bình bồi thường liên đới cùng Đạt là không đúng pháp luật, bời vì khi Bình điều khiển xe thì Đạt vẫn ngồi sau, Đạt vẫn đang là người chiếm hữu, sử dụng xe môtô này nên Đạt là người hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với hậu quả do xe môtô của mình gây ra.
2. Vụ án thứ hai: Ông Lưu Quang Minh mua một xe Charly về dùng chung trong gia đình. Khi ông Minh đi vắng, chị Thu con của ông Minh lấy xe giao cho chị Hạnh là bạn chở đi chơi. Tai nạn xảy ra giữa xe của Hạnh điều khiển và xe của anh Phi làm chị Thu chết.
Tại bản án số 11/HSST, TAND huyện N xử buộc bị cáo Phi và bị cáo Hạnh cùng liên đới bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Minh và bà Đào (cha mẹ của bị hại đã chết là chị Thu.). Tại bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Q đã xử huỷ phần dân sự của bản án sơ thẩm số 11/HSST nói trên với lý do cấp sơ thẩm không đưa ông Minh tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự trong vụ án.
3.Vụ án thứ ba: Anh Nguyễn Văn Anh giao xe môtô của mình cho chị Nguyễn Thị Kim Phượng (có giấy phép lái xe)mượn. Chị Phượng đưa xe này cho chị Thu điều khiển chở chị Phượng phía sau và gây tai nạn làm anh Điền bị thương 61 %. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 07/HSST của TAND huyện P.về phần dân sự đã buộc chị Thu bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Điền.
Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 24/HSPT của TAND tỉnh Q. đã huỷ phần dân sự của bản án số 07 nói trên. Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 06/HSST của TAND huyện P. đã buộc chị Thu và anh Nguyễn Văn Anh liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Điền. Tại bản án Hình sự phúc thẩm số 07/HSPT của TAND tỉnh Q. đã xử huỷ bản án hinhg sự sơ thẩm số 06 nói trên, do sai sót về phần dân sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST của TAND huyện P đã xử buộc anh Nguyễn Văn Anh bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh Điền. Bản án Hình sự phúc thẩm số73/HSPT của TAND tỉnh Q. đã xử y án sơ thẩm.
Tại quyết định giám đốc thẩm số 17/HS-GĐT của Toà án nhân dân Tối cao đã xử huỷ bản án hình sự phúc thẩm số 73 và bản án hình sự sơ thẩm số 01 với lý do: Anh Nguyễn Văn Anh giao xe cho chị Phượng trong điều kiện chị Phượng có bằng lái xe là một giao dịch dân sự hợp pháp, có hiệu lực pháp luật, do vậy anh Anh hoàn toàn không có nghĩa vụ bồi thường trong vụ án này. Chị Phượng là người đang chiếm hữu, sử dụng chiếc xe đó, giao cho chị Thu khi chưa được anh Anh đồng ý, hơn nữa, khi chị Thu điều khiển xe thì chị Phượng ngồi sau nên vẫn chiếm hữu, sử dụng xe nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của chị Phượng. Tuy nhiên, chị Thu là người có lỗi gây tai nạn nên cũng phải liên đới bồi thường thiệt hại cùng chị Phượng.
Diễn biến tiến trình và kết quả tố tụng của ba vụ án nói trên đã cho thấy được sự vướng mắc đáng kể trong việc áp dụng qui định của pháp luật để xử lý các vấn đề liên quan đến bồi thườngg thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Để bày tỏ ý kiến đối với từng vụ án, chúng tôi xin trao đổi về từng nội dung cụ thể của chế định pháp luật qui định về Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, đồng thời qua từng vấn đề, chúng tôi sẽ liên hệ để có chính kiến cụ thể đối với từng vụ án nói trên.
II. Qui định của pháp luật và qua thực tiễn xét xử
I. Về nguyên tắc bồi thường.
Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung, nguyên tắc đảm bảo yếu tố lỗi trong bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đã được loại trừ, có nghĩa chỉ cần xác định được chủ thể có nghĩa vụ bồi thường, có hậu quả xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là đã xác lập được một quan hệ bồi thường dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Điều quan trọng phải xác định lỗi trong trường hợp này là lỗi có mối quan hệ nhân quả với hậu quả xảy ra, lỗi xuất phát từ hành vi gây ra hậu quả. Cụ thể, theo qui định tại khoản 3 Điều 623 BLDS và điểm c mục 2 phần III Nghị quyết 03 năm 2006 thì về nguyên tắc chung chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Theo chúng tôi, cần nhận định rõ, lỗi trong trường hợp này là lỗi đối với hậu quả xảy ra. Bởi lẽ trên thực tiễn lỗi cố ý hoàn toàn của hành vi chưa hẵn là cố ý hoàn toàn đối với hậu quả.
Ví dụ: Xe môtô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết. Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe mô tô) gây ra.
Tuy nhiên, nếu A đang lái xe môtô, B chờ sẵn nhảy vào chắn ngang trước đầu xe A để dùng cây đánh A, sau đó B bị xe A tông chết. Trường hợp này B chỉ có lỗi hoàn toàn đối với hành vi còn đối với hậu quả B không có lỗi, do vậy A không bị loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cần chú ý là trong trường hợp pháp luật có quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.
Trên thực tế, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra do sự kiện bất ngờ rất nhiều, vấn đề đặt ra là tại sao người gây thiệt hại do sự kiện bất ngờ được miễn trách nhiệm hình sự (Điều 11 Bộ luật Hình sự) nhưng lại không được miễn trừ nghĩa vụ bồi thường dân sự. Những hậu quả gây ra sau sự kiện bất ngờ do phía bị hại có lỗi hoàn toàn đối với hành vi hoặc do người thứ 3 có lỗi, nhưng đặt trách nhiệm dân sự cho chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ là không đảm bảo tính công bằng xã hội, thiếu tính thuyết phục cộng đồng và không thống nhất giữa các qui định pháp luật đối với cùng những trường hợp khách quan, không buộc chủ thể phải thấy trước tình huống (Sự kiện bất ngờ, Tình thế cấp thiết, Sự kiện bất khả kháng). Do vậy, theo chúng tôi, khi sửa đổi, bổ sung BLDS 2005, nhà làm luật cần quan tâm đến vấn đề miễn trừ nghĩa vụ bồi thường đối với nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong sự kiện bất ngờ.  Đồng thời Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao cần có hướng dẫn về mức độ bồi thường thiệt hại trong trường hợp không có lỗi, bởi vì đã không có lỗi mà lại chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thì không có cơ sở lý giải, khó được cộng đồng chấp nhận.

(Còn tiếp ...)

Tác giả bài viết: Nguyễn Văn Dũng

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới