giải pháp sáng kiến 2015

Giải pháp hạn chế trả lại đơn khởi kiện tranh chấp đất đai do hòa giải ở cơ sở chưa đúng quy định của Luật đất đai năm 2013

Giải pháp sáng kiến
  1. Mục đích của đề tài:

Với đặc thù là huyện trung du, miền núi nên việc sử dụng đất   luôn gắn chặt với sự phát triển kinh tế của địa phương. Trong những năm trở lại đây, các vụ án tranh chấp về dân sự ngày càng gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất, đặc biệt phải kể đến là các vụ án tranh chấp về đất đai. Mặc dù Luật đất đai năm 2013 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014 nhưng tình trạng tranh chấp và giải quyết tranh chấp đất đai vẫn là một trong những nhiệm vụ cấp bách đòi hỏi các cấp, các ngành vào cuộc quyết liệt. Bên cạnh đó, Luật đất đai năm 2013 cũng đã quy định cụ thể về quy trình giải quyết tranh chấp đất đai tại chương 13 (điều 202 và điều 203) nhưng trên thực tế vẫn chưa được áp dụng một cách đồng bộ, thống nhất, dẫn đến hiệu quả không cao, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây khó khăn trong quá trình hoạt động tố tụng của Tòa án. Với mục đích của đề tài này, bản thân mong muốn đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế việc trả lại đơn khởi kiện cho công dân liên quan đến lĩnh vực tranh chấp đất đai do hòa giải ở cơ sở chưa đúng quy định của pháp luật về đất đai.

  1. Thực trạng những tồn tại liên quan đến vấn đề trả lại đơn khởi kiện tranh chấp đất đai:

Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể tại điều 202 là các trường hợp tranh chấp phải qua hòa giải ở cơ sở trước khi khởi kiện tại Tòa án. Điều 88 Nghị đinh 43/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết quá trình nhận đơn khiếu nại, các bước thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh, thành lập Hội đồng hòa giải và các thành viên, hình thức làm việc để tiến hành hòa giải ở cơ sở. Nhưng hầu hết Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện làm công tác hòa giải chưa thật sự quan tâm đến các quy định nêu trên mà chỉ dựa vào kinh nghiệm, máy móc, rập khuôn theo những cách làm cũ làm cho công tác hòa giải không đảm bảo. Đây là thủ tục bắt buộc mà pháp luật đã quy định nên khi đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án buộc Tòa phải trả lại đơn do vi phạm, chưa có đủ điều kiện khởi kiện. Cụ thể những sai sót thường gặp là:

– Không tiến hành thủ tục hòa giải ở cơ sở theo quy định để đương sự thực hiện quyền khởi kiện tại Tòa án.

– Việc hòa giải tranh chấp đất đai không thể hiện bằng biên bản hòa giải mà chỉ có một biên bản làm việc ghi nhận ý kiến của các bên đương sự và sau đó kết luận là không hòa giải được.

– Biên bản hòa giải không đảm bảo về mặt hình thức, không có chữ ký của các thành viên tham gia hòa giải, không có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã, thị trấn.

– Thành phần tham gia hòa giải không đảm bảo như không có sự tham gia của Ủy ban Mặt trấn Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Không có mặt của tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn. Không có đại diện của một số hộ dân cư sinh sống lâu đời tại khu vực có đất tranh chấp biết rõ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất đối với thửa đất đó.

– Chưa thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất.

– Vi phạm thời hạn giải quyết là 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai (có trưởng hợp nhận đơn nhưng không giải quyết hoặc để kéo dài trong nhiều năm dẫn đến việc khiếu nại vượt cấp)

  1. Nội dung của giải pháp:

Một là: Đề xuất và tham mưu cho lãnh đạo đơn vị ban hành Công văn nhấn mạnh rõ quy định về việc phải tuân theo quy định tại điều 202 của Luật đất đai năm 2013, điều 88 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ gửi đến Ủy ban nhân dân của 14 xã, thị trấn trên địa bàn huyện nhằm khẳng định sự cần thiết của việc hòa giải ở cơ sở với nội dung cụ thể của hai điều này là:

Quy định tại Điều 202 của Luật đất đai:

  1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
  2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
  3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

Quy định tại Điều 88 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ:

  1. Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:
  2. a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
  3. b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
  4. c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.

  1. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

Hai là: Kèm thông báo trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện thì có văn bản chỉ rõ những thiếu sót những thủ tục nào do chưa được hòa giải ở cở sở gửi đến Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn để khắc phục ngay đối với đơn khởi kiến đó và cũng như rút kinh nghiệm khi hòa giải các đơn khiếu nại tranh chấp đất đai tiếp theo.

– Ba là: Trong quá thực hiện công tác tại các địa phương như: đi tham gia xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì bản thân trực tiếp trao đổi với cán bộ địa chính xã, thị trấn về những quy định này, chỉ rõ việc hòa giải tranh chấp đất đai ở cấp xã, thị trấn phải tuân thủ đúng quy định của Luật đất đai năm 2013 và Nghị định số 43 để những cán bộ địa chính này sẽ tham mưu, đề xuất với lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, thị trấn chú trọng tổ chức hòa giải trong những vụ việc cụ thể.

Bốn là: Trên cơ sở phối hợp công việc với Ban tư pháp các xã, thị trấn như  xác minh, đi làm việc với đương sự, đi tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án,… thì bản thân trực tiếp đề xuất với những cán bộ tư pháp phản ánh những tồn tại trong việc hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở dẫn đến việc Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự để những cán bộ này tham mưu cho lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã, thị trấn về thành phần tham gia làm việc, thời gian phải giải quyết đơn khiếu nại về đất đai tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn.

– Năm là: Tại các buổi làm việc với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân huyện, mạnh dạn trao đổi vấn đề tồn tại này với những bộ phận có chức năng để Ban pháp chế chỉ đạo trực tiếp đối với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn về việc phải tiến hành hòa giải ở cơ sở đúng quy trình và thủ tục do Luật đất đai quy định.

– Sáu là: Ban hành văn bản kiến nghị với Phòng Tư pháp huyện khi thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại các xã, thị trấn cần đề cập và hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải tranh chấp đất đất ở cơ sở trong Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thông qua đó mỗi người dân khi khiếu nại về tranh chấp đất đai đều nắm rõ quy trình hòa giải ở cơ sở và yêu cầu Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn thực hiện đúng quy định để họ thực hiện quyền khởi kiện, không bị trả lại đơn do hòa giải ở cơ sở không đảm bảo.

  1. Tiến trình áp dụng đề tài:

– Trong quý I/2015: đã tham mưu và gửi văn bản đến Ủy bân nhân dân 14 xã thị trấn và được sự thống nhất cao.

– Việc trao đổi với cán bộ địa chính và cán bộ tư pháp được thực hiện thường xuyên hằng tháng, hằng quý.

– Phản ánh với Ban pháp chế Hội đồng nhân dân huyện trong các cuộc làm việc với Tòa án.

– Việc kiến nghị với Phòng Tư pháp đã thực hiện trong quý I/2015 và được sự thống nhất.

  1. Kết quả áp dụng đề tài (tính đến tháng 06/2015):

Trong năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn đã tiến hành thụ lý và giải quyết 12 vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất. Hầu hết các vụ án được thụ lý đảm bảo về hoạt động hòa giải ở cơ sở.

Riêng bản thân được phân công xử lý 08 đơn khởi kiện liên quan đến tranh chấp đất đai. Đã thụ lý và giải quyết 05 đơn. Trả lại đơn khởi kiện 03 đơn.

Hiện nay, các đơn khởi kiện đất đai khi gửi đến tại đơn vị gần như không có sự vi phạm về việc hòa giải ở cơ sở. Hầu hết việc hòa giải đã đáp ứng  theo quy định của pháp luật. Những đơn khởi kiện tranh chấp đất đai bị trả bởi nguyên nhân không có hòa giải hoặc hòa giải không đảm bảo đã được khắc phục, không còn là nguyên nhân chủ yếu.

  1. Những kiến nghị, đề xuất:

Để quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất rừng và đất đồi núi một cách khách quan, nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các đương sự, tôi mạnh dạn đề xuất và kiến nghị như sau:

– Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6, khóa XIII, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014 có những điểm mới, phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay và Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn Luật đất đai. Tuy nhiên, việc triển khai thi hành đòi hỏi cần phải có các văn bản hướng dẫn thực hiện, nhất là đối với Tòa án nhân dân tối cao cần có những Nghị quyết hướng dẫn cụ thể để Tòa án nhân dân các cấp thực hiện một cách thống nhất.

– Tòa án nhân dân tỉnh kiến nghị UBND tỉnh phối hợp trong công tác tuyên truyền, phổ biến luật đất đai trong đó đề nghị Tòa án cử các báo cáo viên hướng dẫn cụ thể thủ tục hòa giải này cho các địa phương áp dụng thống nhất.

– Tòa án nhân dân tỉnh có những văn bản chỉ đạo nghiệp vụ cụ thể về lĩnh vực đất đai để có cơ sở áp dụng chung trong toàn tỉnh.

Trên đây là báo cáo sáng kiến, giải pháp cải tiến phương pháp làm việc năm 2015 với đề tài “Giải pháp hạn chế trả lại đơn khởi kiện tranh chấp đất đai do hòa giải ở cơ sở chưa đúng quy định của Luật đất đai năm 2013”. Kính mong Lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Hồi đồng thi đua khen thưởng, Lãnh đạo Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tiếp tục chỉ đạo thực hiện và các đồng nghiệp góp ý để bản thân và sáng kiến được hoàn thiện, áp dụng rộng rãi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đạt kết quả cao./.

Tác giả: Lê Thanh Hải

Đơn vị: Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *